Sau nhiều tháng lao dốc xuống mức vài nghìn đồng mỗi trái, giá dừa tươi nay đã tăng gấp đôi nhờ nhu cầu tiêu thụ và xuất khẩu cải thiện.
Tại vùng trồng, dừa tươi ở khu vực Bến Tre cũ (nay thuộc Vĩnh Long) được thu mua ở mức 80.000-100.000 đồng mỗi chục (12 trái), tăng gấp đôi so với đầu năm.
Ông Đình Mười, nông dân tại Vĩnh Long, cho biết vườn dừa khoảng 50 cây của gia đình hiện mang lại thu nhập ổn định; thời gian tới, ông dự định mở rộng diện tích và chuyển sang canh tác theo tiêu chuẩn GlobalGAP, sử dụng giống phục vụ xuất khẩu để nâng giá trị.
Nhiều chủ vườn dừa khác cũng cho biết thu nhập ổn định trở lại khi giá dừa tăng nhanh.
Đà tăng tại vườn nhanh chóng lan sang thị trường bán lẻ. Tại TP HCM, giá dừa tăng thêm 3.000-5.000 đồng mỗi trái. Dừa xiêm loại lớn dao động 15.000-16.000 đồng, dừa dứa khoảng 20.000 đồng mỗi trái. Dừa gọt trọc ở mức 15.000 đồng với loại dưới 300 gram, khoảng 18.000 đồng với loại 350 gram và từ 20.000 đồng với loại trên 400 gram.
Dừa tại nhà máy xuất khẩu ở Bến Tre cũ (nay Vĩnh Long). Ảnh: Thi Hà
Theo các tiểu thương, giá dừa tăng trong ngắn hạn chủ yếu do bước vào cao điểm nắng nóng, nhu cầu tiêu thụ nước dừa tăng mạnh, trong khi thời tiết khô hạn làm giảm năng suất, khiến nguồn cung không đáp ứng đủ. Bên cạnh đó, chi phí vận chuyển tăng theo giá nhiên liệu cũng góp phần đẩy giá bán lẻ đi lên, đồng thời gây áp lực lên các cơ sở chế biến trong việc đảm bảo nguyên liệu.
Tuy nhiên, dưới góc nhìn ngành hàng, xu hướng tăng giá không chỉ đến từ yếu tố mùa vụ. Ông Cao Bá Đăng Khoa, Tổng thư ký Hiệp hội Dừa Việt Nam, cho rằng đợt tăng giá hiện nay chủ yếu diễn ra ở phân khúc dừa tươi, trong khi dừa nguyên liệu (dừa khô) tăng chậm và chỉ mang tính phục hồi, dựa trên nền tảng nội tại. Khi dừa Việt Nam đã tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, nhu cầu đến từ nhiều thị trường quốc tế, không chỉ phụ thuộc vào tiêu thụ nội địa.
Theo ông, sự cải thiện của thị trường còn đến từ quá trình tái cấu trúc ngành. Trước đây, sản xuất thiếu kiểm soát, không có hệ thống ghi chép và chưa phân loại rõ ràng các giống dừa, dù có khoảng 16 loại khác nhau. Tình trạng sử dụng dừa nguyên liệu chưa đạt độ chín để tiêu thụ dưới danh nghĩa dừa tươi từng làm suy giảm uy tín với khách hàng quốc tế. Gần đây, nhiều vùng trồng đã chuyển sang mô hình sản xuất tập trung, sử dụng đồng nhất giống và minh bạch hóa chủng loại như dừa xiêm xanh, xiêm lửa, dừa dứa, qua đó từng bước khôi phục niềm tin thị trường.
Diễn biến tại vùng nguyên liệu cho thấy rõ sự phân hóa giữa các phân khúc. Vĩnh Long và Đồng Tháp hiện là hai địa phương có diện tích trồng dừa lớn, trong đó riêng Vĩnh Long chiếm khoảng 60% cả nước với gần 123.000 ha. Trong quý I, giá dừa khô giảm sâu, có thời điểm xuống 40.000-60.000 đồng mỗi chục, tương đương giảm tới hai phần ba so với cùng kỳ. Tuy nhiên, từ giữa tháng 4, giá bắt đầu phục hồi do nguồn cung giảm theo mùa vụ. Ngược lại, dừa tươi tăng mạnh lên 90.000-130.000 đồng mỗi chục nhờ nhu cầu tiêu thụ cao và hoạt động thu mua phục vụ xuất khẩu.
Hoạt động xuất khẩu tiếp tục là động lực quan trọng. Ba tháng đầu năm, các doanh nghiệp tại Vĩnh Long đã xuất khẩu hơn 16 triệu quả dừa khô, chủ yếu sang Thái Lan và Trung Quốc. Với dừa tươi, thị trường được mở rộng sang Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia. Số liệu hải quan cho thấy kim ngạch xuất khẩu dừa tươi quý I đạt 65 triệu USD, tăng 26% so với cùng kỳ, trong đó xuất khẩu dừa tươi sang Trung Quốc và EU đều tăng hai chữ số.
Hiện, hơn 60% sản lượng dừa khô đã được đưa vào chế biến sâu, tạo ra các sản phẩm giá trị gia tăng như nước cốt dừa, dầu dừa, bột sữa dừa, than hoạt tính, giúp nâng cao hiệu quả kinh tế và giảm phụ thuộc vào xuất khẩu thô.
Dù vậy, theo các chuyên gia, ngành dừa vẫn đối mặt nhiều thách thức. Giá cả biến động mạnh khiến nông dân và doanh nghiệp khó xây dựng kế hoạch dài hạn. Liên kết giữa doanh nghiệp và hợp tác xã còn lỏng lẻo, chưa hình thành vùng nguyên liệu bền vững. Cạnh tranh thu mua nguyên liệu gia tăng, đặc biệt ở phân khúc dừa hữu cơ có giá trị cao nhưng đòi hỏi tiêu chuẩn nghiêm ngặt.
Thi Hà



